Nơi lưu giữ những câu chuyện dưới ánh trăng.

ỐC SÊN GIAO NHẦM THƯ TÌNH CHO TIÊN QUÂN

Chương 1: Bức Thư Giao Mất Bốn Mươi Chín Ngày

Chương 1: Bức Thư Giao Mất Bốn Mươi Chín Ngày Chương 2: Tiên Quân Đột Nhiên Nhận Lời Thành Thân Chương 3: Ta Mọc Râu Vì Nói Dối Chương 4: Người Mất Ngủ Và Con Ốc Nói Nhiều Chương 5: Thư Tình Trống Bay Khắp Thiên Giới Chương 6: Giấc Mộng Ba Trăm Năm Trước Chương 7: Người Viết Thư Thật Sự Chương 8: Lần Này Hắn Tỉnh Táo Tỏ Tình Chương 9: Trạm Thư Dưới Chân Núi
Sau →
💬 Bình luận
🎧 Nghe AI
0%

Chương 1: Bức Thư Giao Mất Bốn Mươi Chín Ngày

Ta mất bốn mươi chín ngày để đưa một phong thư từ chân núi lên đỉnh núi.

Chuyện này nghe qua quả thật hơi lâu, nhưng nếu biết ngọn núi kia là Vô Mộng Sơn, quanh năm bị bao phủ bởi ba mươi sáu tầng mê chướng, có tám vạn bảy nghìn bậc đá và không cho phép bất kỳ pháp khí phi hành nào bén mảng tới gần, mọi người hẳn sẽ cảm thấy bốn mươi chín ngày cũng không đến nỗi quá đáng. Hơn nữa, ta là một con ốc sên. Trước khi hóa hình, quãng đường xa nhất ta từng đi là từ mặt sau chiếc lá sen sang mặt trước chiếc lá sen, mất tròn một buổi sáng.

Cho nên ta cho rằng mình đã rất cố gắng.

Phong thư ấy xuất hiện tại Trạm Truyền Tin số Ba vào một buổi sớm cuối xuân. Khi ấy ta đang ngồi sau quầy, cẩn thận dùng vải mềm lau từng chiếc chuông dẫn đường, bên cạnh là một chồng thư cao hơn đầu. Trưởng trạm Bạch Hạc quân đập cánh đáp xuống trước mặt ta, đặt một phong thư màu xanh nhạt lên đỉnh chồng thư rồi dùng mỏ gõ ba cái vào mặt bàn.

“Lạc Tiêm Miên, thư khẩn.”

Ta ngẩng đầu nhìn ông, lại nhìn hai chữ “khẩn cấp” đóng bằng chu sa ở góc phong bì, trong lòng lập tức nảy sinh dự cảm chẳng lành. Thư bình thường giao vào tay ta đã phải chuẩn bị tinh thần đợi từ đầu tháng đến cuối tháng. Thư khẩn rơi vào tay ta chẳng khác nào đặt một chén trà nóng lên lưng rùa rồi bảo nó mang đến trước khi trà nguội.

Ta thành thật nói: “Trưởng trạm, hay là ngài giao cho Thanh Điểu tỷ tỷ? Nàng bay rất nhanh, hôm qua còn đưa được tám trăm phong thư trước giờ Ngọ.”

Bạch Hạc quân khép cánh, nghiêm túc nhìn ta. “Thanh Điểu đã bay về Tây Côn Luân. Kim Sí đi Nam Thiên Môn, Hỏa Vũ xuống nhân gian, những người còn lại đều có việc. Hơn nữa, phong thư này không chịu đi theo bất kỳ ai.”

Ta chớp mắt. “Không chịu đi là sao?”

Ông dùng mỏ hất phong thư xuống trước mặt ta. Phong bì màu xanh nhạt lơ lửng giữa không trung, tránh khỏi cánh tay của hai vị tiên đồng đang định bắt lấy nó, sau đó thong thả bay một vòng quanh đại sảnh. Cuối cùng, nó đáp xuống lòng bàn tay ta, yên tĩnh đến mức trông như một phong thư vô cùng ngoan ngoãn.

Cả trạm truyền tin đồng loạt quay đầu nhìn ta.

Ta cũng nhìn phong thư.

Phong thư không nói gì, nhưng ta cảm giác nó đang nhìn lại mình.

Bạch Hạc quân thở phào như trút được một món nợ lớn. “Thấy chưa? Nó chọn ngươi.”

“Có khi nó chỉ mệt nên tiện đường đáp xuống thôi.” Ta thử nghiêng lòng bàn tay. Phong thư lập tức trượt theo, dính chặt vào tay ta như một miếng cao dán. “Trưởng trạm, trên thư còn không có tên người nhận.”

“Có.”

Bạch Hạc quân dùng đầu cánh chỉ vào hàng chữ mảnh như sương nằm giữa phong bì. Ta ghé sát mặt nhìn một lúc lâu, đến khi hai mắt sắp dính vào nhau mới đọc được dòng chữ kia.

“Kẻ ta thầm yêu suốt ba trăm năm.”

Ta đọc xong, trong đại sảnh lập tức im phăng phắc.

Một lát sau, tiên đồng chuyên đóng dấu ngồi gần đó huýt sáo. Thanh Khâu hồ yêu đang sắp xếp thư mời bên cửa sổ cũng dựng cả hai tai lên, tò mò ghé tới. Ngay cả Bạch Hạc quân vốn luôn tự nhận thanh tâm quả dục cũng lặng lẽ hạ thấp cổ, cố nhìn xem phong bì còn viết thêm điều gì không.

Ta lật mặt trước, xem mặt sau, thậm chí đưa lên ngửi thử. Ngoài một mùi hương rất nhạt giống như tuyết tan trong đêm, trên đó không có tên, không có địa chỉ, cũng chẳng có dấu ấn linh lực của người gửi. Phần ký tên trống trơn, chỉ có duy nhất một câu chỉ dẫn khiến người ta nghe xong đã thấy tiền đồ mờ mịt.

Ta hỏi: “Thiên giới rộng như vậy, ta biết đi đâu tìm người được thầm yêu suốt ba trăm năm?”

Hồ yêu bên cạnh lập tức đáp: “Cứ tìm người đẹp nhất.”

Tiên đồng đóng dấu phản đối: “Người được yêu chưa chắc đã đẹp. Có khi người gửi có mắt nhìn đặc biệt.”

“Vậy tìm người khó tính nhất.” Kim ngư tinh phụ trách phân loại thư từ cũng chen vào. “Thầm yêu ba trăm năm mà chưa theo đuổi được, đối phương chắc chắn rất khó gần.”

Bạch Hạc quân dùng cánh gõ mạnh lên bàn, ngăn cuộc tranh luận sắp biến thành danh sách những tiên nhân khó gần nhất Thiên giới. Ông nhìn ta, giọng điệu đầy tin tưởng mà ta nghe thế nào cũng thấy giống đang đẩy trách nhiệm.

“Ngươi nhớ đường tốt nhất trạm chúng ta, lại làm việc cẩn thận, chưa từng giao nhầm một phong thư nào. Phong thư này đã chọn ngươi, ắt có nguyên do. Cứ mang theo nó, nó sẽ tự dẫn ngươi đến chỗ người nhận.”

Ta cúi đầu nhìn phong thư nằm ngoan ngoãn trong tay, suy nghĩ rất lâu rồi hỏi: “Nếu nó dẫn sai thì sao?”

Bạch Hạc quân đáp không chút do dự: “Thư có thể sai, người giao thư không thể sai.”

“Vậy nếu ta giao trễ?”

Ông nhìn ra khoảng sân ngập nắng bên ngoài, giả vờ không nghe thấy.

Ta hiểu rồi. Một phong thư không rõ người gửi, không rõ người nhận, không rõ địa chỉ, còn được đóng dấu khẩn cấp đã chính thức trở thành trách nhiệm của ta.

Trước khi lên đường, ta buộc phong thư vào túi đeo trước ngực bằng ba lớp dây tơ, bên ngoài bọc thêm một lớp vải chống mưa. Ta mang theo mười hai chiếc bánh linh cốc, bốn bình sương sớm, hai lọ thuốc chống say mây và một chiếc mai nhỏ dùng để ngủ qua đêm. Bạch Hạc quân nhìn đống hành lý chất cao bên cửa, hỏi ta định đi giao thư hay chuyển nhà.

Ta đáp rằng người cẩn thận phải chuẩn bị cho mọi tình huống.

Ông nhìn tốc độ ta buộc dây giày, im lặng một lúc rồi đưa thêm cho ta hai mươi chiếc bánh nữa.

Phong thư quả thật biết dẫn đường. Sau khi rời trạm, mỗi lần đến ngã rẽ, nó sẽ khẽ rung lên trong túi áo, nghiêng về phía cần đi. Chỉ có điều nó không chịu báo trước quãng đường dài bao nhiêu, vì thế ta đi qua ba cây cầu mây, hai khu rừng linh trúc, một hồ sen nuôi cá biết mắng người rồi mới phát hiện mình đã đứng dưới chân Vô Mộng Sơn.

Ngọn núi ấy cao đến mức nhìn từ dưới lên chỉ thấy một dải tuyết trắng chìm vào tầng mây. Trên cổng đá phủ đầy rêu xanh có khắc bốn chữ: Người ngoài dừng bước. Bên dưới còn có một tấm biển mới hơn, nét chữ mạnh đến mức xuyên sâu vào gỗ: Không nhận khách, không nhận lễ, không nhận khiếu nại.

Ta đứng trước cổng đá, lặng lẽ lấy bánh ra ăn.

Một vị tiểu tiên đang quét lá gần đó nhìn ta hồi lâu, cuối cùng không nhịn được hỏi: “Ngươi định lên núi?”

Ta gật đầu, miệng còn ngậm nửa chiếc bánh.

Hắn nhìn túi thư trước ngực ta, vẻ mặt lập tức trở nên thương hại. “Giao thư cho Thương Tịch Dư tiên quân?”

“Ta chưa biết.” Ta nuốt bánh xuống, lấy phong thư ra cho hắn xem. “Ta chỉ biết người nhận là kẻ được ai đó thầm yêu ba trăm năm. Phong thư dẫn ta đến đây.”

Cây chổi trong tay tiểu tiên rơi xuống đất.

Hắn lùi lại hai bước, quan sát ta từ đầu đến chân như thể muốn xác định ta là người đưa thư hay người sắp tự tìm đường chết. “Trên Vô Mộng Sơn chỉ có một mình Thương tiên quân. Không chim muông, không tiên hầu, cũng không có lấy một con sâu dám bò lên. Ngươi nói xem thư kia còn có thể giao cho ai?”

Ta cảm thấy lời này có phần xúc phạm loài bò chậm, nhưng vì đang đứng nhờ trên địa bàn của người khác nên chỉ hỏi: “Thương tiên quân đáng sợ lắm sao?”

Tiểu tiên lập tức hạ thấp giọng. “Ngài ấy cai quản giấc ngủ và mộng cảnh, một ý niệm có thể khiến người ta chìm trong ác mộng trăm năm. Nghe nói ba trăm năm nay ngài ấy chưa từng cười, cũng không cho bất kỳ ai bước vào động phủ. Lần trước có một vị tiên tử mang rượu đến, còn chưa đặt chân qua cổng đã bị gió cuốn thẳng về Nam Thiên Môn.”

Ta nghe xong, từ trong túi lấy thêm một chiếc bánh.

Tiểu tiên ngạc nhiên. “Ngươi không sợ à?”

“Có.” Ta thành thật nói. “Cho nên ta ăn no trước. Lỡ bị gió cuốn xuống núi, ít nhất giữa đường không bị đói.”

Tiểu tiên há miệng, dường như muốn khuyên thêm, nhưng ta đã đeo lại túi thư rồi bước qua cổng đá. Vừa đặt chân lên bậc đầu tiên, một luồng sương lạnh liền quấn quanh mắt cá chân, mang theo cảm giác buồn ngủ kỳ lạ. Ta vội véo mạnh vào mu bàn tay, tiếp tục chậm rãi đi lên.

Ngày đầu tiên, ta đi được một nghìn tám trăm bậc.

Ngày thứ hai, ta phát hiện mình đếm nhầm, quay xuống ba trăm bậc để kiểm tra.

Ngày thứ bảy, trời đổ mưa. Ta hóa về nguyên hình, chui vào chiếc mai nhỏ mang theo, ôm phong thư ngủ dưới một tán thông suốt hai ngày. Sau khi tỉnh lại, ta phát hiện chiếc mai đã bị nước mưa cuốn xuống thấp hơn nơi ban đầu năm trăm bậc.

Đến ngày thứ hai mươi ba, bánh linh cốc chỉ còn một nửa. Ngày thứ ba mươi, ta gặp một tầng mộng chướng khiến con đường trước mặt biến thành quầy bánh ngọt dài vô tận. Ta biết đó là giả, nhưng vẫn mất nửa ngày đứng ngắm, bởi những chiếc bánh kia trông thật sự rất ngon.

Ngày thứ bốn mươi, ta bắt đầu nghi ngờ phong thư đang cố tình thử thách lòng kiên nhẫn của mình. Ta lấy nó ra, ngồi bên bậc đá nói chuyện phải trái suốt một canh giờ. Nó vẫn nằm im, không biết hối lỗi, nhưng sau khi ta buộc lại vào ngực, luồng sáng dẫn đường quả thật sáng hơn một chút.

Đến ngày thứ bốn mươi chín, ta cuối cùng cũng nhìn thấy động phủ trên đỉnh núi.

Trước động phủ không có cây cối, chỉ có một hồ nước đen phẳng lặng như gương. Tuyết phủ trên những phiến đá trắng, gió thổi qua mà không phát ra tiếng động, khiến cả đỉnh núi giống như một giấc mộng đã bị ai đó quên mất. Ta đứng trước cửa đá đóng kín, chỉnh lại áo quần, lau sạch bùn trên mặt rồi lấy phong thư từ trong túi ra.

“Trạm Truyền Tin số Ba, Lạc Tiêm Miên đến giao thư.” Ta cố gắng nói thật lớn, nhưng vì đã leo núi quá lâu nên giọng nghe hơi giống tiếng muỗi sắp ngất. “Xin hỏi Thương Tịch Dư tiên quân có ở đây không?”

Không ai đáp.

Ta đợi một lúc, lại gõ cửa. “Thư khẩn, đã trễ bốn mươi tám ngày sáu canh giờ. Nếu tiên quân không ra nhận, ta sẽ phải ghi là người nhận vắng mặt.”

Cửa đá vẫn im lìm.

Ta nghĩ đến bốn mươi chín ngày trèo đèo lội suối, trong lòng bỗng sinh ra một chút can đảm. “Nếu ngài thật sự không muốn nhận, ít nhất cũng mở cửa ký tên xác nhận giúp ta. Ta còn phải trở về báo cáo. Trưởng trạm nhà ta rất nghiêm, tuy ông ấy thường giả vờ không nghe thấy câu hỏi, nhưng lúc trừ công đức thì tai đặc biệt thính.”

Lời vừa dứt, phong thư trong tay ta đột nhiên nóng lên.

Ba lớp dây tơ đồng loạt bung ra. Phong thư màu xanh nhạt thoát khỏi tay ta, hóa thành một vệt sáng bay thẳng về phía hồ nước. Mặt hồ đang yên tĩnh bỗng nổi lên một vòng gợn sóng, bóng người cao gầy từ trong làn sương lạnh chậm rãi hiện ra.

Ta từng gặp rất nhiều tiên nhân trong lúc giao thư. Có người rực rỡ như ánh mặt trời, có người thanh nhã như trăng đầu tháng, cũng có người vừa mở miệng đã khiến ta muốn giả chết trong mai. Nhưng người trước mặt lại giống một đêm tuyết không có ánh sao, đẹp đến lạnh lẽo, ngay cả vạt áo đen rủ xuống cũng không nhiễm một hạt bụi.

Mái tóc dài của hắn buông sau lưng, sắc mặt nhợt nhạt, dưới mắt có một tầng bóng mờ rất nhạt. Hắn không giống người vừa tỉnh ngủ. Hắn giống người đã rất lâu không biết ngủ là gì.

Hắn cúi mắt nhìn dòng chữ trên phong bì, sau đó ngẩng lên nhìn ta. Ánh mắt ấy dừng trên mặt ta lâu hơn mức cần thiết, khiến ta vô thức sờ lên đầu, sợ mình vừa leo núi vừa mọc rêu.

“Ngươi là Lạc Tiêm Miên?” hắn hỏi.

Ta ngẩn người. Trên áo ta có thẻ tên của trạm truyền tin, hắn nhìn thấy cũng không lạ, vì thế lập tức gật đầu. “Đúng vậy. Ta phụ trách giao phong thư này. Tuy hơi trễ một chút, nhưng thư vẫn còn nguyên, không thấm nước, không rách góc, cũng chưa từng rời khỏi người ta.”

Hắn dùng ngón tay miết nhẹ qua phong ấn. “Bốn mươi chín ngày?”

“Thật ra là bốn mươi tám ngày sáu canh giờ.” Ta dè dặt sửa lại. “Ta đứng ngoài cửa chờ thêm một lúc mới đủ bốn mươi chín ngày.”

Không biết có phải ta nhìn nhầm hay không, khóe môi hắn dường như khẽ động. Nhưng vẻ mặt ấy biến mất quá nhanh, lúc ta nhìn kỹ, hắn đã lạnh nhạt như cũ.

Thương Tịch Dư mở phong thư.

Ta lập tức đứng thẳng lưng, chuẩn bị chờ hắn ký xác nhận. Thế nhưng sau khi tờ giấy được rút ra, gió trên đỉnh núi bỗng ngừng hẳn. Ta đứng cách hắn không xa, vừa vặn có thể nhìn thấy mặt giấy trắng tinh, từ đầu đến cuối không có lấy một nét mực.

Ta dụi mắt.

Hắn lật mặt sau.

Vẫn trống không.

Trong đầu ta vang lên một tiếng “ong”, cảm giác như công đức dành dụm suốt nửa năm vừa mọc cánh bay mất. Ta đã mất bốn mươi chín ngày mang một phong thư khẩn vượt qua nửa Thiên giới, cuối cùng bên trong lại chẳng có chữ nào. Nếu người nhận cho rằng ta đánh tráo nội dung, nhẹ thì trừ công đức, nặng thì có thể phải bồi thường tổn thất tinh thần cho một vị tiên quân cai quản ác mộng.

Thương Tịch Dư nhìn tờ giấy trống một lúc lâu, sau đó chậm rãi nâng mắt.

“Là ngươi viết?”

Ta vốn định nói không.

Thật sự.

Nhưng ánh mắt hắn lạnh như tuyết trên đỉnh núi, còn trong đầu ta đồng loạt hiện lên cảnh Bạch Hạc quân trừ sạch công đức, tịch thu bàn làm việc và đuổi ta về hồ sen tiếp tục gặm lá. Một con ốc sên muốn mở trạm thư riêng không thể để lại vết nhơ giao thất lạc nội dung ngay trong năm đầu hóa hình.

Vì thế, ta nhắm mắt gật đầu.

“Là ta.”

Trên đỉnh đầu bỗng truyền đến cảm giác ngứa ngáy quen thuộc. Ta không cần soi gương cũng biết hai chiếc râu nhỏ đã vì căng thẳng mà mọc ra, run rẩy dựng thẳng giữa mái tóc.

Thương Tịch Dư nhìn chúng.

Ta cố gắng dùng ánh mắt khiến hắn hiểu đây chỉ là một kiểu trang sức mới của tộc ốc sên.

Hắn im lặng rất lâu, lâu đến mức ta bắt đầu cân nhắc xem bây giờ lăn xuống núi có còn kịp hay không. Sau đó, vị tiên quân nổi tiếng vô tình khép tờ giấy trắng lại, bước đến trước mặt ta.

“Được.”

Ta ngơ ngác ngẩng đầu. “Được gì?”

Hắn nhìn thẳng vào mắt ta, giọng nói vẫn lạnh nhạt, nhưng từng chữ đều rõ ràng đến mức không thể nghe nhầm.

“Ta đồng ý.”

(Hết chương 1)

Sau →

Bình luận 💬 0