Chương 2: Tiên Quân Đột Nhiên Nhận Lời Thành Thân
“Ta đồng ý.”
Ta đứng giữa gió tuyết, hai chiếc râu nhỏ trên đầu run đến mức suýt quấn vào nhau. Trong đầu ta lướt qua rất nhiều khả năng: hắn đồng ý ký xác nhận đã nhận thư, đồng ý không truy cứu chuyện bức thư trống, hoặc rộng lượng hơn một chút thì đồng ý không báo việc này lên Ty Truyền Tin. Dù là khả năng nào cũng đủ giúp ta giữ lại số công đức ít ỏi đã tích góp suốt nửa năm.
Ta lập tức lấy sổ giao nhận từ trong túi ra, vui vẻ đưa tới trước mặt hắn. “Tiên quân quả nhiên là người hiểu chuyện. Ngài ký vào đây giúp ta, tốt nhất ghi thêm rằng thư đến nơi vẫn nguyên vẹn. Nếu có thể đóng dấu thần thức thì càng tốt, trưởng trạm nhìn thấy chắc chắn sẽ không trừ công đức của ta.”
Thương Tịch Dư không nhận sổ.
Hắn nhìn hai chiếc râu đang không ngừng lay động trên đầu ta, sau đó mới chậm rãi nói: “Ta đồng ý làm đạo lữ của ngươi.”
Gió trên đỉnh núi dường như lạnh hơn một chút.
Ta vẫn giữ nguyên tư thế đưa sổ, mất rất lâu mới hiểu từng chữ hắn vừa nói. Khi hiểu rồi, tay ta mềm nhũn, quyển sổ giao nhận rơi xuống tuyết, lật đúng vào trang ghi điều lệ xử phạt nhân viên giao nhầm thư.
“Đạo… đạo lữ?”
“Ừ.”
“Của ta?”
“Ở đây còn người khác sao?”
Ta quay đầu nhìn quanh. Ngoài hồ nước đen, cửa động phủ và mấy tảng đá bị tuyết vùi một nửa, trên đỉnh núi quả thật không có lấy một bóng người. Ta cúi xuống nhặt sổ, phủi tuyết thật lâu, hy vọng trong lúc ấy Thương Tịch Dư sẽ nhận ra đây chỉ là một sự hiểu lầm rồi tự sửa lời.
Hắn không sửa.
Ta đành ngẩng đầu, cố gắng nở một nụ cười hòa nhã với khách nhận thư. “Tiên quân, ta nghĩ ngài đã hiểu sai ý của bức thư. Nó chỉ ghi ‘kẻ ta thầm yêu suốt ba trăm năm’, không nhắc đến chuyện kết thành đạo lữ. Người viết có thể chỉ muốn hỏi thăm sức khỏe, mời ngài uống trà hoặc thông báo rằng đã thầm yêu đủ lâu, từ nay quyết định từ bỏ.”
Thương Tịch Dư liếc tờ giấy trắng trong tay. “Ngươi vừa thừa nhận mình viết.”
“Ta thừa nhận bức thư là do ta viết, nhưng không thừa nhận những chữ bên ngoài cũng là do ta viết.”
“Phong bì và giấy thư có cùng một luồng yêu lực.”
Ta nghẹn lời. Ta không biết hắn nói thật hay đang dọa mình, nhưng tiên quân cai quản mộng cảnh hẳn không đến mức phải bịa chuyện để bắt nạt một nhân viên giao thư mới vào nghề. Hơn nữa, phong thư kỳ quái kia đã tự chọn ta từ đầu, còn dính trên tay ta như cao dán, nói nó hoàn toàn không liên quan đến ta thì chính ta nghe cũng thấy thiếu sức thuyết phục.
Thấy ta im lặng, Thương Tịch Dư lại hỏi: “Ngươi không muốn?”
“Không phải không muốn.” Ta lựa lời cẩn thận, bởi người trước mặt có thể khiến kẻ khác chìm trong ác mộng trăm năm. “Chỉ là ta chưa từng nghĩ đến chuyện này. Ta vừa hóa hình được bảy tháng, công việc còn chưa ổn định, trạm thư riêng cũng chưa mở, trong túi chỉ có ba mươi hai viên linh thạch. Nếu lúc này kết thành đạo lữ, ta sợ mình không nuôi nổi ngài.”
Ánh mắt Thương Tịch Dư dừng trên mặt ta. “Ngươi định nuôi ta?”
“Đạo lữ không phải nên cùng nhau ăn cơm sao?” Ta tính toán trong đầu rồi thành thật nói, “Nghe nói tiên quân dùng linh lộ ngàn năm để pha trà, một bình đã bằng tiền công ba năm của ta. Nếu ngày nào ngài cũng uống, ta chỉ có thể xin trưởng trạm cho làm thêm ban đêm. Nhưng ta làm việc vốn đã chậm, ban ngày chưa giao xong thì ban đêm cũng không thể bắt đầu việc mới…”
Ta còn chưa tính xong khoản tiền mua trà, Thương Tịch Dư bỗng quay mặt đi, đưa tay che nhẹ bên môi.
Ta nghi ngờ hắn đang cười, nhưng khi hắn nhìn lại, vẻ mặt vẫn lạnh lùng như cũ. “Ta không cần ngươi nuôi.”
“Vậy ngài nuôi ta sao?”
“Có thể.”
Câu trả lời quá nhanh khiến ta không biết phải tiếp lời thế nào. Ta nhìn động phủ rộng lớn phía sau hắn, lại nhìn y phục trên người hắn, cảm thấy vị tiên quân này quả thật rất có khả năng nuôi thêm một con ốc. Nhưng ta là yêu tu có chí hướng, sao có thể chỉ vì đối phương có nhà trên đỉnh núi và chịu bao ăn mà tùy tiện gả mình đi?
Ta nghiêm túc nói: “Tiên quân, hôn nhân đại sự không thể quyết định chỉ bằng một phong thư trống. Chúng ta vừa mới gặp nhau, ngài còn chưa biết ta thích ăn gì, ngủ ở đâu, có những thói quen xấu nào. Ta cũng không biết ngài vì sao sống một mình, có mắc nợ ai không, khi ngủ có đá chăn hay nghiến răng không. Vội vàng kết làm đạo lữ như vậy rất dễ hối hận.”
Thương Tịch Dư im lặng một lát. “Ta không nghiến răng.”
“Đó không phải trọng điểm.”
“Cũng không đá chăn.”
“Tiên quân, trọng điểm là chúng ta không hiểu nhau.”
Hắn cúi mắt nhìn ta. Gió lạnh lướt qua mái tóc dài đen như mực, khiến bóng dáng vốn đã cô quạnh của hắn càng thêm xa cách. Nhưng không hiểu sao, ta cảm thấy trong khoảnh khắc ấy ánh mắt hắn có chút mệt mỏi, giống như người đã đi qua một con đường rất dài mà vẫn chưa tìm được nơi dừng chân.
“Vậy thì ở lại,” hắn nói.
Ta chớp mắt. “Ở đâu?”
“Vô Mộng Sơn.”
“Bao lâu?”
“Đến khi hiểu nhau.”
Ta suýt bị chính nước bọt của mình làm sặc. Cách giải quyết của vị tiên quân này thật sự vô cùng thẳng thắn: không hiểu thì sống chung, sống chưa đủ lâu thì tiếp tục sống. Nếu cứ theo logic ấy, đợi đến khi ta chứng minh được mình không viết thư, có khi trạm truyền tin đã tưởng ta chết trên đường rồi lập bia tưởng niệm.
Ta vội vàng lắc đầu. Hai chiếc râu nhỏ cũng lắc theo, tạo thành bốn cái bóng chồng lên nhau dưới ánh tuyết. “Ta còn phải trở về báo cáo. Thư đã giao xong, dù nội dung có chút vấn đề thì trách nhiệm của ta cũng chỉ đến đây. Chuyện thành thân chúng ta có thể chậm rãi bàn sau, chẳng hạn ba trăm năm nữa.”
Ta nhặt túi hành lý, cúi người chào hắn rồi quay về phía con đường xuống núi. Chỉ cần đi hết tám vạn bảy nghìn bậc đá, vượt qua ba mươi sáu tầng mê chướng và không bị nước mưa cuốn ngược trở lại, ta sẽ có thể về đến trạm trước đầu mùa hạ năm sau.
Ta vừa đi được ba bước, cổ áo phía sau bỗng bị giữ lại.
Chân ta vẫn bước về phía trước, nhưng cả người không nhúc nhích. Ta quay đầu, nhìn bàn tay đang nắm cổ áo mình, rồi nhìn chủ nhân của bàn tay ấy.
“Tiên quân, ngài đang giữ nhân viên thi hành công vụ.”
“Ngươi đi quá chậm.”
“Ta biết.” Đây là chuyện cả Thiên giới đều biết, không cần hắn nhắc lại. “Nhưng chậm không có nghĩa là không thể đến nơi. Ta mất bốn mươi chín ngày lên núi, xuống núi có thể nhanh hơn một chút, khoảng bốn mươi ngày.”
Thương Tịch Dư nhìn bậc đá chìm trong mây phía trước, dường như đang cân nhắc xem có nên để ta bò thêm bốn mươi ngày hay không. Cuối cùng, hắn buông cổ áo ta, nhưng trước khi ta kịp vui mừng, một luồng linh lực đã quấn quanh eo, nhấc bổng ta khỏi mặt đất.
Ta theo bản năng ôm chặt túi thư trước ngực. Hai chân lơ lửng, chiếc mai nhỏ đeo sau lưng va vào người hắn một tiếng rất nhẹ. Thương Tịch Dư chỉ dùng một tay đã giữ ta ổn định, tư thế tự nhiên đến mức giống như hắn thường xuyên nhặt những con ốc đi lạc trên đường.
“Ngài làm gì vậy?”
“Mang ngươi vào trong.”
“Ta đã nói phải xuống núi.”
“Bên ngoài sắp có bão tuyết.”
Ta ngẩng đầu nhìn bầu trời. Mây đen quả thật đang tụ lại rất nhanh, chỉ trong chốc lát đã che kín những đỉnh núi phía xa. Ta tới đây bốn mươi chín ngày, đương nhiên biết thời tiết trên Vô Mộng Sơn thất thường đến mức nào. Nhưng ở lại động phủ của một người vừa nhìn thấy bức thư trống đã muốn cưới mình, nghe thế nào cũng không an toàn hơn ngủ ngoài tuyết.
Ta cố gắng thương lượng: “Ta có mai, có thể trú ở bên ngoài.”
“Gió đêm nay sẽ cuốn ngươi xuống vách núi.”
“Ta có dây, có thể buộc mình vào cây.”
“Trên đỉnh núi không có cây.”
Ta nhìn quanh, phát hiện hắn nói đúng. Nơi này hoang vắng đến mức ngay cả cỏ dại cũng không muốn mọc, chỉ có vài phiến đá trơ trọi nhô khỏi tuyết. Ta nghĩ ngợi rồi chỉ vào một tảng đá lớn gần hồ. “Ta có thể buộc vào đó.”
Thương Tịch Dư không trả lời nữa.
Hắn ôm ta đi thẳng vào động phủ.
Cửa đá khép lại sau lưng, ngăn tiếng gió vừa nổi lên bên ngoài. Bên trong không lạnh như ta tưởng, nhưng vô cùng yên tĩnh. Những viên minh châu màu lam được khảm trên vách đá, ánh sáng nhạt như trăng chìm dưới đáy nước. Phía trước là một gian chính điện rộng lớn, đồ đạc ít đến đáng thương, ngoài bàn đá và một chiếc giường đặt sâu trong bóng tối thì hầu như không còn gì khác.
Ta được đặt xuống bên cạnh bàn. Vừa chạm chân xuống đất, ta lập tức lùi lại hai bước, kéo giãn khoảng cách giữa hai người.
“Ta chỉ tránh bão tuyết một đêm.” Ta nhấn mạnh. “Sáng mai sẽ xuống núi, chuyện đạo lữ xem như chưa từng xảy ra.”
Thương Tịch Dư đặt phong thư trống lên bàn, không đồng ý cũng không phản đối. Hắn rót một chén nước từ bình ngọc rồi đẩy về phía ta. Nước trong chén trong suốt, mang theo mùi hương rất nhạt khiến đầu óc đang căng thẳng của ta dịu xuống đôi chút.
Ta dè dặt hỏi: “Đây không phải linh lộ ngàn năm chứ?”
“Không phải.”
“Uống xong sẽ không bị ghi tên vào hôn khế chứ?”
“Không.”
Ta vẫn chưa yên tâm. “Có khiến người ta mất trí nhớ, ngủ ba trăm năm hoặc mơ thấy mình đã thành thân không?”
Thương Tịch Dư nhìn ta thật lâu. “Chỉ là nước.”
Ta ôm chén uống một ngụm, phát hiện quả thật chỉ là nước, thậm chí còn hơi lạnh. Ta thở phào, sau đó lấy sổ giao nhận ra lần nữa, mở đến trang cần ký rồi đặt trước mặt hắn.
“Vậy phiền tiên quân xác nhận giúp ta trước. Ghi rõ đã nhận thư, bên trong không có chữ từ khi mở ra, người giao thư không tự ý xem trộm hay làm mất nội dung. Còn chuyện ngài muốn thành thân…”
Ta dừng lại, nhìn hai chiếc râu vẫn chưa chịu thu về trên bóng mình phản chiếu trong chén nước.
“Có thể đợi sau khi ta chứng minh được bức thư không phải do ta viết rồi nói tiếp.”
Thương Tịch Dư nhận bút, nhưng không ký ngay. Hắn đưa tay chạm lên phong bì, đôi mắt đen sâu thẳm nhìn hàng chữ “kẻ ta thầm yêu suốt ba trăm năm” thật lâu. Ta không biết hắn đang nghĩ gì, chỉ thấy vẻ mệt mỏi dưới mắt hắn dường như càng rõ hơn dưới ánh minh châu.
Một lát sau, hắn viết tên mình vào sổ.
Ngay bên dưới dòng xác nhận đã nhận thư, Thương Tịch Dư còn viết thêm một câu.
Người đưa thư tự nhận là người gửi, ta đã nhận lời.
Ta nhìn dòng chữ ấy, suýt làm rơi chén nước lần thứ hai.
“Tiên quân, ngài không thể viết như vậy!”
“Vì sao?”
“Bởi vì nó không đúng sự thật.”
“Ngươi đã nhận.”
“Ta nhận vì sợ bị trừ công đức!”
Thương Tịch Dư ngước mắt nhìn ta. Ánh mắt hắn lướt qua hai chiếc râu trên đầu ta, dừng lại một chút rồi mới bình thản hỏi: “Vậy lúc nói dối, râu của ngươi sẽ mọc ra?”
Ta lập tức đưa hai tay che đầu.
Đến lúc ấy ta mới nhận ra, vị tiên quân này có lẽ không biết toàn bộ chân tướng của bức thư, nhưng hắn đã nắm được nhược điểm lớn nhất của ta.
(Hết chương 2)
Bình luận 💬 0