Nơi lưu giữ những câu chuyện dưới ánh trăng.

ỐC SÊN GIAO NHẦM THƯ TÌNH CHO TIÊN QUÂN

Chương 3: Ta Mọc Râu Vì Nói Dối

Chương 1: Bức Thư Giao Mất Bốn Mươi Chín Ngày Chương 2: Tiên Quân Đột Nhiên Nhận Lời Thành Thân Chương 3: Ta Mọc Râu Vì Nói Dối Chương 4: Người Mất Ngủ Và Con Ốc Nói Nhiều Chương 5: Thư Tình Trống Bay Khắp Thiên Giới Chương 6: Giấc Mộng Ba Trăm Năm Trước Chương 7: Người Viết Thư Thật Sự Chương 8: Lần Này Hắn Tỉnh Táo Tỏ Tình Chương 9: Trạm Thư Dưới Chân Núi
← Trước Sau →
💬 Bình luận
🎧 Nghe AI
0%

Chương 3: Ta Mọc Râu Vì Nói Dối

Ta che đầu nhanh đến mức suýt úp cả chén nước lên mặt.

Hai chiếc râu nhỏ bị ép dưới lòng bàn tay, ngoan ngoãn nằm xuống được một lát rồi lại cố chui qua kẽ ngón tay, run rẩy thăm dò bên ngoài. Đây là nhược điểm khiến ta mất mặt nhất từ sau khi hóa hình. Những yêu tu khác lúc căng thẳng có thể lộ tai hồ ly, đuôi thỏ hoặc một đôi cánh đẹp đẽ, còn ta chỉ mọc ra hai chiếc râu mềm, nhìn qua chẳng có chút uy nghiêm nào.

Thương Tịch Dư đặt bút xuống, ánh mắt vẫn dừng trên đỉnh đầu ta. “Che cũng vô dụng.”

“Ta không che.” Ta kéo mũ áo lên, trùm kín mái tóc. “Trong động phủ của ngài hơi lạnh, ta chỉ muốn giữ ấm.”

Hai chiếc râu lập tức đội mũ nhô lên, tạo thành hai chóp nhỏ méo mó.

Thương Tịch Dư im lặng nhìn.

Ta cũng im lặng nhìn bóng mình phản chiếu trong chén nước, cuối cùng đành buông tay. “Được rồi, chúng mọc ra vì ta căng thẳng, không phải cứ nói dối mới mọc. Ngài đừng tùy tiện kết luận, càng không được ghi chuyện này vào sổ giao nhận.”

“Vừa rồi ngươi nói mình viết thư.”

“Ta căng thẳng.”

“Sau đó lại nói bức thư không phải do mình viết.”

“Ta vẫn căng thẳng.”

“Vậy khi nào ngươi không căng thẳng?”

Ta nghiêm túc suy nghĩ. “Lúc ăn no, ngủ đủ, không bị trừ công đức, không phải trèo tám vạn bảy nghìn bậc đá và không có tiên quân nào đột nhiên đòi kết làm đạo lữ với ta.”

Ánh mắt hắn lướt qua túi hành lý lép kẹp của ta. “Ngươi còn bánh không?”

Ta cảnh giác ôm túi vào lòng. Trên đường lên núi, ta đã ăn hết ba mươi mốt chiếc bánh linh cốc, chiếc cuối cùng phải dành cho lúc xuống núi. “Còn một chiếc, nhưng đó là lương thực cứu mạng.”

Thương Tịch Dư đứng dậy, đi về phía sau bức bình phong bằng đá. Ta nghe tiếng mở tủ, sau đó hắn mang ra một hộp gỗ đặt trước mặt ta. Bên trong là những miếng bánh trắng nhỏ phủ một lớp bột mịn, hương thơm ngọt dịu lan ra khiến bụng ta rất không có khí tiết mà kêu lên.

Ta nhìn bánh, lại nhìn hắn. “Ngài muốn dùng thức ăn dụ ta thừa nhận hôn sự?”

“Ta muốn xem ăn no rồi, râu của ngươi có biến mất không.”

Lời này nghe qua có vẻ hợp lý, nhưng một người vừa gặp đã muốn cưới ta sao có thể hoàn toàn đáng tin? Ta cẩn thận lấy kim thử độc trong túi ra, châm vào miếng bánh gần nhất. Kim không đổi màu. Ta lại lấy bùa kiểm tra mê dược, bùa kiểm tra khế ước và một lá phù chuyên phát hiện linh lực biến hình, lần lượt dán lên hộp gỗ.

Thương Tịch Dư nhìn từng món đồ được bày ra trên bàn, vẻ mặt dần trở nên khó tả. “Ngươi mang theo những thứ này để giao thư?”

“Làm nghề của ta có rất nhiều nguy hiểm. Năm ngoái có người gửi một hộp điểm tâm cho tình địch, bên trong giấu bùa rụng tóc. Người giao thư không kiểm tra kỹ, vừa mở nắp đã trọc mất nửa đầu.” Ta xác nhận bánh không có vấn đề mới lấy một miếng, nhưng vẫn chưa vội ăn. “Bánh này từ đâu ra?”

“Người khác mang đến.”

“Ai?”

“Không nhớ.”

“Bao lâu rồi?”

Thương Tịch Dư nhìn chiếc hộp một lát. “Có thể là mười năm.”

Ta lặng lẽ đặt bánh trở lại.

“Yêu tu ăn vào chưa chắc chết,” hắn bổ sung.

“Nhưng có thể đau bụng.” Ta đóng nắp hộp, đẩy về phía hắn. “Đau bụng sẽ làm chậm tốc độ xuống núi của ta. Ta vốn đã mất bốn mươi ngày, không thể chậm thêm nữa.”

Bên ngoài động phủ vang lên một tiếng gió rít dữ dội. Cửa đá rung nhẹ, những viên minh châu trên vách đồng loạt tối đi trong chốc lát rồi sáng trở lại. Ta quay đầu nhìn, thấy qua khe cửa hẹp chỉ còn một màu trắng xóa, bão tuyết cuốn thành từng vòng dày đặc, hoàn toàn che mất đường xuống núi.

Thương Tịch Dư bình thản nói: “Ngươi không xuống được.”

“Bão sẽ dừng.”

“Ba ngày.”

Ta quay phắt lại. “Ngài biết chắc sao?”

“Vô Mộng Sơn do ta cai quản. Ta biết khi nào gió tuyết trên núi hình thành.”

Câu trả lời này có căn cứ, ta không thể phản bác. Nhưng ba ngày ở lại đây đồng nghĩa với ba ngày cùng một vị tiên quân cứ khăng khăng nhận mình là đạo lữ tương lai, trong khi toàn bộ thức ăn trong động phủ có thể đã để từ mười năm trước.

Ta cúi đầu nhìn chiếc bánh cuối cùng trong túi, cảm thấy tình cảnh hiện tại còn đáng sợ hơn việc bị trừ công đức.

Thương Tịch Dư dường như nhìn ra suy nghĩ của ta. Hắn giơ tay, một luồng linh lực màu bạc lướt qua đầu ngón tay rồi biến mất sau bức bình phong. Chỉ chốc lát sau, từ sâu trong động phủ truyền đến tiếng va chạm lạch cạch, tiếp theo là một con hạc giấy lớn bằng lòng bàn tay bay ra, trên lưng cõng một chiếc thẻ ngọc.

Hắn viết vài chữ lên thẻ rồi đặt vào mỏ hạc giấy. “Mang đến thiện phòng dưới chân núi.”

Hạc giấy vỗ cánh bay về phía cửa đá. Một khe nhỏ vừa mở ra, nó lập tức hóa thành vệt sáng xuyên qua bão tuyết.

Ta nhìn đến ngẩn người. “Pháp khí có thể bay trên Vô Mộng Sơn?”

“Pháp khí của ta.”

“Vậy vì sao lúc lên núi ta không thể dùng?”

“Người ngoài không thể.”

Ta mất bốn mươi chín ngày, ngủ dưới mưa hai đêm, bị nước cuốn xuống năm trăm bậc, còn đứng ngắm bánh giả trong mộng chướng mất nửa ngày. Trong khi đó, chủ nhân ngọn núi chỉ cần búng tay là có thể gọi thức ăn từ chân núi lên.

Hai chiếc râu trên đầu ta dựng thẳng.

Thương Tịch Dư nhìn chúng. “Bây giờ cũng căng thẳng?”

“Không.” Ta nghiến răng cười. “Bây giờ là tức giận.”

“Vì sao?”

“Vì đường lên động phủ của ngài quá khó đi. Ta là người giao thư, không phải người vượt thiên kiếp. Nếu đã không muốn khách đến, ngài nên đặt một hòm nhận thư dưới chân núi, hoặc ít nhất để lại pháp trận chuyển thư. Ngài có biết ta phải làm lại bao nhiêu đôi giày mới đến được đây không?”

“Ba đôi.”

Ta khựng lại, cúi xuống nhìn chân mình. Đôi giày hiện tại là đôi thứ ba, mũi giày bị đá mài xước, trên cổ chân còn quấn lớp vải vá màu xanh. Chỉ cần nhìn kỹ là có thể đoán được, không phải hắn biết được chuyện ngoài tầm mắt.

Ta vẫn hỏi: “Ngài đếm à?”

“Dấu vải vụn còn trên đường.”

Ta nhớ lại những đoạn dây và mảnh vải mình đã dùng để vá giày, cảm thấy lời giải thích này miễn cưỡng chấp nhận được. Thương Tịch Dư sống một mình trên núi, có thể cảm nhận biến động trong địa giới của mình cũng không lạ. Nhưng biết có người đang trèo lên mà vẫn để ta bò suốt bốn mươi chín ngày, nhân phẩm của hắn quả thật còn cần quan sát thêm.

“Ngài biết có người lên núi từ khi nào?” ta hỏi.

“Ngày thứ bốn mươi.”

Ta tròn mắt. “Vậy chín ngày cuối ngài chỉ đứng nhìn?”

“Ta tưởng ngươi sẽ quay về.”

“Ta là người giao thư có trách nhiệm. Chưa gặp được người nhận, ta sẽ không quay về.”

“Ta đã thấy.”

Câu nói ngắn ngủi ấy khiến cơn tức trong ta dịu đi một chút. Ta kéo ghế ngồi xuống, dùng hai tay vuốt râu cho chúng nằm yên. “Ngài thấy ta có trách nhiệm thì càng nên tin ta. Ta không phải người viết bức thư kia. Trạm chúng ta có quy định rất nghiêm, người giao thư không được tự ý gửi tình thư cho khách trong lúc làm việc, càng không được mượn danh nghĩa giao thư để ép người khác thành thân.”

Thương Tịch Dư ngồi đối diện ta. “Ngươi muốn chứng minh thế nào?”

“Trước hết phải kiểm tra phong thư.” Ta lấy đôi găng tay mỏng chuyên dùng khi xử lý thư có linh lực, cẩn thận đeo vào rồi đưa tay về phía phong bì. “Ta có thể xem không?”

Hắn đẩy phong thư sang.

Ta không biết vì sao hắn lại phối hợp nhanh như vậy, nhưng đây là cơ hội tốt. Ta lấy kính truy tức trong túi ra, đặt lên mặt phong bì. Pháp khí này có thể soi được linh lực còn lưu lại của người viết trong vòng một trăm ngày. Tuy không hiện rõ thân phận, nó vẫn phân biệt được tiên lực, yêu lực, ma khí hoặc linh lực của người phàm.

Một quầng sáng xanh nhạt hiện lên trên hàng chữ ngoài phong bì.

Ta ghé sát nhìn, hai chiếc râu cũng tò mò nghiêng về phía trước. Ánh sáng kia không giống yêu lực màu vàng nhạt của ta, cũng không hoàn toàn giống tiên lực màu bạc đang bao quanh Thương Tịch Dư. Nó mỏng như sương, khi tụ khi tan, chỉ chạm nhẹ vào kính truy tức đã hóa thành một làn khói rồi biến mất.

Ta ngẩn ra. “Đây là mộng lực?”

Thương Tịch Dư không trả lời ngay. Hắn đưa tay chạm lên nơi quầng sáng vừa tan, sắc mặt lạnh nhạt hơn lúc trước. “Có dấu vết của mộng cảnh.”

Ta nghe ra sự khác biệt. Hắn chỉ xác nhận thứ trên phong thư có liên quan đến mộng cảnh, không nói mình biết nó từ đâu đến. Ta lập tức ghi điều này vào sổ nhỏ, bên cạnh còn vẽ thêm một con rùa để đánh dấu phát hiện quan trọng.

“Vậy càng chứng minh không phải ta viết. Ta chỉ là ốc sên yêu bình thường, chưa học thuật tạo mộng, ngay cả lúc ngủ cũng chỉ mơ thấy rau non và bánh linh cốc.” Ta đẩy kính truy tức sang cho hắn xem. “Yêu lực của ta và mộng lực trên thư hoàn toàn khác nhau.”

“Phong thư đã ở bên ngươi bốn mươi chín ngày.”

“Thì sao?”

“Linh lực có thể bị che lấp hoặc nhiễm lẫn.”

Ta không thể phủ nhận. Những bức thư được người giao mang theo quá lâu thường sẽ dính một phần khí tức của người ấy, bởi vậy kính truy tức chỉ dùng để tham khảo chứ không thể làm chứng cứ tuyệt đối. Nhưng ít nhất chúng ta đã tìm được manh mối đầu tiên: người viết hoặc thứ tạo ra phong thư có liên quan đến mộng cảnh.

Ta lấy tờ giấy trắng ra khỏi phong bì, soi dưới minh châu rồi hơ qua ngọn lửa xanh của bùa hiện chữ. Mặt giấy vẫn sạch sẽ, không có mực ẩn, không có ký hiệu truyền âm, cũng chẳng giấu pháp trận nào. Khi ta thử nhỏ một giọt linh lộ lên góc giấy, nó bỗng rung nhẹ rồi tự trượt về phía Thương Tịch Dư.

Hắn đưa tay đón lấy.

Tờ giấy lập tức nằm im trong lòng bàn tay hắn, ngoan ngoãn hơn lúc ở chỗ ta rất nhiều.

Ta chỉ vào nó. “Ngài thấy chưa? Nó thích ngài, không phải ta.”

“Có lẽ vì ngươi viết cho ta.”

“Ngài đừng suy luận ngược như vậy.” Ta kéo sổ lại, viết thêm một hàng chữ thật đậm: *Tờ giấy chủ động tìm người nhận*. “Chúng ta nên điều tra xem gần đây có mộng cảnh nào thất lạc, pháp khí nào mất kiểm soát hoặc người nào dùng mộng lực viết thư. Trước khi tìm được chân tướng, ngài không được tiếp tục nói ta là người gửi.”

“Ngươi đã tự nhận trước.”

“Ta sẽ sửa lời khai.”

“Râu của ngươi mọc.”

“Ta đã nói vì căng thẳng!”

Hai chiếc râu lại dựng lên đúng lúc, khiến lời giải thích của ta giảm đi ít nhất một nửa sức thuyết phục. Ta giận dữ ép chúng xuống, nhưng lần này Thương Tịch Dư bất ngờ đưa tay tới. Đầu ngón tay hắn khẽ chạm vào một chiếc râu, động tác nhẹ đến mức ta chỉ cảm nhận được một luồng lạnh mỏng lướt qua.

Toàn thân ta lập tức cứng đờ.

Râu của tộc ốc sên rất nhạy cảm. Trước khi hóa hình, chúng ta dùng chúng để cảm nhận phương hướng, khí tức và nguy hiểm xung quanh. Sau khi hóa hình, hai chiếc râu nhỏ chỉ xuất hiện lúc cảm xúc dao động mạnh, nhưng cảm giác vẫn còn nguyên. Bị chạm bất ngờ chẳng khác nào có người gõ thẳng vào giữa trán ta.

Ta ôm đầu lùi lại, mặt nóng bừng. “Ngài làm gì vậy?”

Thương Tịch Dư thu tay, trên mặt hiếm khi xuất hiện một chút ngập ngừng. “Ta tưởng là giả.”

“Giả sao có thể động đậy?”

“Trang sức pháp khí cũng có thể.”

“Đây là râu thật!” Ta kéo mũ trùm kín đầu lần nữa. “Không được tùy tiện chạm. Chúng dùng để nhận đường, rất quý giá.”

Hắn nhìn hai chóp nhỏ đang run dưới lớp mũ. “Ngươi nhớ đường bằng chúng?”

“Không hoàn toàn. Sau khi hóa hình, ta nhớ bằng đầu óc là chính.” Ta xoa chiếc râu vừa bị hắn chạm, cảm giác tê tê vẫn chưa tan. “Nhưng lúc chưa hóa hình, ta dựa vào chúng để tìm đường. Dù bò xa đến đâu cũng có thể quay về nơi mình từng ở.”

Ánh mắt Thương Tịch Dư chợt dừng lại trên mặt ta. Hắn nhìn rất lâu, lâu đến mức ta bắt đầu nghi ngờ trên mũ mình dính vụn bánh. Nhưng cuối cùng hắn chỉ hỏi: “Nơi từng đến trong mộng cũng nhớ sao?”

Ta ngẩn người.

“Ta chưa từng thử.” Ta thành thật đáp. “Mộng tỉnh rồi thường sẽ quên. Hơn nữa, ta chỉ mới hóa hình bảy tháng, trước đó phần lớn thời gian đều sống bên hồ Tịnh Liên, làm sao có thể chui vào mộng của người khác?”

Thương Tịch Dư không hỏi tiếp.

Ngoài cửa, gió tuyết vẫn gào thét. Trong động phủ lại yên tĩnh đến lạ, chỉ còn tiếng ngón tay hắn khẽ gõ lên mặt bàn. Ta không biết câu hỏi vừa rồi xuất phát từ đâu, càng không biết vì sao khi nghe câu trả lời của ta, vẻ mệt mỏi trong mắt hắn dường như sâu thêm một chút.

Chưa đầy nửa canh giờ sau, con hạc giấy quay lại. Trên lưng nó mang theo hai hộp thức ăn nóng, một bình trà và một túi bánh linh cốc mới nướng. Ta vừa ngửi thấy mùi thơm, hai chiếc râu lập tức tự chui khỏi mũ, vui vẻ hướng về phía túi bánh.

Thương Tịch Dư nhìn chúng rồi nhìn ta. “Bây giờ không căng thẳng?”

“Bây giờ là vui.” Ta nhận lấy túi bánh, kiểm tra sơ qua rồi cắn một miếng. Vỏ bánh giòn, bên trong có nhân mật hoa ngọt dịu, ngon hơn lương khô của trạm truyền tin rất nhiều. “Tiên quân, ngài gọi nhiều như vậy, thiện phòng dưới chân núi có biết là cho ai ăn không?”

“Không.”

“Vậy tốt.” Ta thở phào. “Nếu họ biết ta ở trong động phủ của ngài suốt ba ngày, lời đồn chắc chắn sẽ chạy về Trạm Truyền Tin trước cả ta.”

“Lời đồn gì?”

Ta suýt bị nhân bánh làm nghẹn. “Một nhân viên đưa thư ở lại nhà người nhận, còn được người ta nhận lời thành thân. Ngài cảm thấy họ sẽ đồn gì?”

Thương Tịch Dư rót trà, vẻ mặt thản nhiên đến đáng giận. “Đồn đúng sự thật.”

Ta đặt mạnh chiếc bánh xuống. Hai chiếc râu vừa vui vẻ lập tức dựng thẳng vì tức.

Hắn nhìn chúng một lúc, rồi chậm rãi đưa cho ta một chén trà.

“Ăn đi,” hắn nói. “Ba ngày đủ để ngươi tìm bằng chứng.”

Ta nhận chén trà, vẫn không quên sửa lại: “Là bằng chứng chứng minh ta không viết thư.”

“Ừ.”

“Sau khi chứng minh được, ngài phải xóa dòng ghi chú trong sổ giao nhận.”

“Được.”

Ta nghi ngờ nhìn hắn. “Ngài đồng ý dễ dàng như vậy sao?”

Thương Tịch Dư cúi mắt uống trà, không trả lời trực tiếp. Một lát sau, hắn mới bình thản nói: “Nếu ngươi tìm được.”

Hai chiếc râu trên đầu ta run lên.

Không hiểu vì sao, ta bỗng cảm thấy ba ngày sắp tới sẽ không dễ chịu như túi bánh trước mặt.

(Hết chương 3)

← Trước Sau →

Bình luận 💬 0